bạn nào viết một bài overview về cái này được không?
thks
bạn nào viết một bài overview về cái này được không?
thks
WDM - Wavelength Devision Multiplexing: đây là một công nghệ ghép kênh được áp dụng đối với hệ thống thông tin Quang. Về truyền dẫn quang, có các công nghệ đang được sử dụng đó là : Time division Multiplexing, Code division multiplexing, và Wavelength division multiplexing (hoặc là FDM: Frequency division multiplexing).
WDM về cơ bản là giống với FDM. FDM là thuật ngữ thường được dùng trong hệ thống thông tin di động, còn WDM là dùng trong hệ thống thông tin quang. Mọi người có thể hình dung, có một thiết bị, trong đó có n đầu vào là các bước sóng lamda-1, lamda-2,...lamda-n, và 1 đầu ra, trong đó các bước sóng được truyền chung trên cùng một sợi quang, đây là sợi quang đơn mode (Single mode fibre - SMF). Tuy nhiên, để tránh ảnh hưởng lẫn nhau của các bước sóng khi truyền chung trên một sợi quang, khoảng cách giữa các bước sóng - khoảng cách các kênh (channel spacing) phải đủ lớn. Như vậy, có thể coi như WDM cung cấp nhiều sợi quang ảo, mỗi sợi quang mang một bước sóng khác nhau. Hiện nay, các hệ thống WDM thường được triển khai trong mạng quang biển, đường dài nối từ nước này sang nước khác, châu lục này sang châu lục khạc
DWDM : Dense Wavelength Division Multiplexing: Đây là công nghệ ghép kênh theo bước sóng với mật độ rất cao, có khi lên tới hàng nghìn, cung cấp dung lượng rất lớn. Khi mà các dịch vụ về truyền dữ liệu, tải phim ảnh, âm nhạc, trò chơi ngày càng phát triển, thì việc triển khai WDM nói chung là cần thiết để đảm bảo việc cung cấp dải thông cũng như tốc độ cho việc truyền dẫn này. DWDM hiên nay thường được dùng cho hệ thống cáp quang biển hay hệ thống xuyên lục địa, tuy nhiên, cũng có thể cung cấp trong phạm vi một nước hay một khu vực do chi phí trong việc triển khai rất cao. Khoảng cách ko dùng bộ lặp hay bộ khuếch đại lên đến vài nghìn km.
Như đã nói bên trên, để tránh cho việc ảnh hưởng lẫn nhau giữa các bước sóng khi ghép kênh để truyền trên 1 sợi quang, khoảng cách được chuẩn hóa giữa 2 bước sóng là 0.8nm hay tương đương với 100GHz.
Còn một công nghệ nữa đó là CWDM (Coarse WDM) mới được thông qua năm 2002, công nghệ này theo lý thuyết ghép được tối đa 18 bước sóng, với khoảng cách các bước sóng khoảng 20nm vào một kênh, dung lượng và tốc độ được đảm bảo như DWDM, khoảng cách ko dùng bộ lặp hoặch khuếch đại là khoảng vài chục cho tới vài trăm km. Ưu điểm của CWDM là có chi phí thấp hơn triển khai DWDM khoảng 30-50%. Do vậy, CWDM được ưu tiên triển khai trong hệ thống mạng của thành phố hoặc của 1 khu vực!