6.2 Các công nghệ bảo mật hiện hành:
Có rất nhiều phương pháp bảo mật đang được sử dụng, ở đây ta chỉ tìm hiểu một số phương pháp tiêu biểu:
a. IP Sec
IP sec là một giao thức bảo mật được chứng tỏ và triển khai rộng rãi, và cung cấp bảo vệ các ứng dụng mà sử dụng UDP hay TCP như là một giao thức vận chuyển, IP sec có thể được sử dụng trong chế độ vận chuyển hay đường hầm để bảo vệ các payload, bởi vì IP sec được ứng dụng trong rất nhiều vùng lĩnh vực, ở đây ta chỉ bàn luận đến tác động của nó trong SIP như thế nào trong phần này. IP sec có thể cung cấp sự bí mật, tính toàn vẹn và chứng thực cho các thông điệp báo hiệu và media bằng cách tạo các đường hầm đảm bảo giữa các đầu cuối. Hình 7.6 chỉ cách sử dụng của IP sec trong môi trường SIP.
Trong ví dụ này, Bob cố gắng thiết lập cuộc gọi đến Alice. Để bảo vệ báo hiệu SIP sử dụng IPsec, điện thoại của Bob thiết lập một đường hầm IPsec với proxy tương ứng của nó (domain A). Khi mà đường hầm được thiết lập, các proxy SIP phân tích các thông điệp và chuyển tiếp chúng đến đích thích hợp. Trước khi nó gởi các thông điệp, nó phải thiết lập đường hầm IPsec khác với proxy SIP tương ứng (miền B). Khi đường hầm này được thiết lập, proxy SIP của Alice kiểm tra các thông điệp và chuyển tiếp nó đến điện thoại của Alice. Việc tạo ba đường hầm riêng biệt này có thể mất trung bình khoảng 2.7 giây cho mỗi IP sec liên kết được thiết lập (xấp xỉ 5-6 giây cho toàn bộ đường hầm IPsec. Có thể phải mất 20 giây cho việc thiết lập cuộc gọi (từ Bob đến Alice và ngược lại) khi IP sec end to end được sử dụng. Điều này là khó chấp nhận bởi vì các tổ chức kinh doanh chỉ cho phép thời gian thiết lập cuộc gọi không nên quá 25 ms. Trên một khía cạnh khác, đường dẫn media (RTP) được thiết lập trực tiếp giữa hai đầu cuối, và mất trung bình khoảng 10ms, là không đáng kể. Điều này chỉ ra rằng không cần thiết sử dụng IP sec cho các phiên được cấp động, bởi vì thời gian phải mất cho các thông điệp báo hiệu là để đi qua các bước nhảy ở xa là lớn hơn thời gian user có thể chờ cho việc thiết lập cuộc gọi. Nếu các liên kết IPsec đã sẵn sàng được thiết lập, thì hầu như sẽ không có trễ liên kết với các định tuyến thông điệp báo hiệu, ví dụ như VoIP qua các mạng VPN là khả thi. Trong một vài trường hợp các đường hầm IPsec cần được thiết lập lại bởi vì lỗi mạng, phần mềm hay phần cứng hỏng, hoạt động kém, hoặc đàm phán lại các khoá cũng có thể tác động đến cuộc gọi. Tổng quát, IPsec có thể thích hợp bảo vệ lưu lượng VoIP giữa các mạng nếu khi mà các đường hầm VoIP được thiết lập trước. Đặc biết IP sec giữa các site cách biệt vẫn ổn định bởi vì luôn có lưu lượng đi qua và các đường hầm không mất hiệu lực bởi khả năng hoạt động kém. Điều này là không đúng cho điện thoại VoIP mà có thể sử dụng IP sec để bảo vệ các thông điệp báo hiệu và media. Để giải quyết vấn đề này, các thực thi gởi các thông điệp đăng nhập thường xuyên đến các registrar địa phương để duy trì đường hầm IP sec. Có 3 phương pháp dùng trong IP sec, nhưng phương pháp được ứng dụng nhất là PKI.
+ Cấu trúc khóa dùng chung PKI (Public Key Infrastructure)
PKI là bộ khung của các chính sách, dịch vụ và phần mềm mã hóa, đáp ứng nhu cầu bảo mật của người sử dụng khi gửi những thông tin quan trọng qua Internet hay các mạng khác.
Ở hình dưới, khái niệm khóa bí mật được trình bày, Alice và Bob là 2 bên của phiên truyền thông. Trong trường hợp này cả hai đều có cùng một khóa bí mật. Alice mã hóa văn bản muốn gửi đến Bod bằng khóa bí mật của mình. Khi Bod nhận được văn bản đã mã hóa và giải mã nó với cùng một khóa tương tự. Phương pháp này còn được gọi là Pre-shared key hoặc phương pháp mã hóa đối xứng.

Hình 6.3: phương pháp mã hóa khóa đối xứng
Ở phương pháp này tính bảo mật chưa cao do hai người cùng sử dụng một key.
Chìa khóa mật mã dùng chung (Public Key Criptography): đảm bảo độ tin cậy đối với các thông tin hoặc các thông điệp bằng cách sử dụng những thuật toán. Hay nói rõ hơn là nó sẽ dung một chìa khóa để mã hóa dữ liệu và một chìa khóa để giải mã chúng. Trong dịch vụ khóa dung chung, người sử dụng nhận được phần mềm mã hóa đặc biệt và một cặp chìa khóa, trong đó một khóa là khóa dung chung (Public key), và một khóa dành riêng (Private key) người sử dụng phải giữ bí mật
Hai chìa khóa có liên hệ mật thiết với nhau sao cho khi khi mã hóa dữ liệu với khóa dung chung thì ta có thể giải mã lại được bằng khóa dành riêng. một người sử dụng, ví dụ Alice mã hóa môt thông điệp gửi đi bằng chìa khóa công cộng của người nhận là Bob. Khi nhận được thông điệp này Bob sẽ giải mã nó bằng chìa khóa dành riêng cho mình. với cách đó, vấn đề bảo mật sẽ được nâng cao do mỗi người tự quản lý khóa dành riêng cho mình

Hình 6.3: phương pháp khóa bất đối xứng
Mô hình và những thực thể kiến trúc PKI:
Hình bên dưới cho ta thấy được đơn giản hóa mô hình kiến trúc PKI. Mặc dù dữ liệu được mã hóa khác nhau, cách mà thực thể trong hai cấu trúc tương tác nhau thì nhận thức tương tự . Mỗi thực thể PKI cũng giống như một thực thể trong cơ sở hạ tầng thẻ tín dụng
Chúng ta định nghĩa các thực thể PKI:
+ Đầu cuối thực thể (End Entity): người sử dụng các chứng thực PKI hoặc các đầu cuối user. Giống như đầu đọc thẻ ghi nợ trong các cửa hàng bán lẻ hoặc nhà hàng, chúng đọc các chứng thực user (số của thẻ ghi nợ) và hỏi công ty thẻ ghi nợ về tính hợp pháp của người giữ thẻ cũng như giới hạn của việc ghi nợ.
+ Ủy quyền chứng thực CA (certificate Authority): là một hệ thống ban hành các chứng thực PKI, từ việc xử lý các ứng dụng ghi nợ, kiểm tra các khiếu kiện và ban hành thẻ ghi nợ
+ Ủy quyền đăng ký RA (Registration Authority): một hệ thống tùy chọn mà đại diện cho CA một số chức năng nào đó.
+ Phát hành CRL (Certificate Revocation List): hệ thống tùy chọn đại diện cho CA về công bố danh sách các chứng thực bị thu hồi. thực thể này quản lý tương đương với việc khai báo mất hoặc bị đánh cắp thẻ ghi nợ và phân bổ các thông tin chứng thực bị hủy bỏ
+ Kho chứa: thu thập các hệ thống được phân bổ mà chứa các chứng thực CRL, và các server được biết như là để phân bổ các chứng thực và các CRL đến đầu cuối thực thể. Tương tự như là cơ sở dữ liệu của thẻ ghi nợ
Các giao thức hoạt động phân phối các chứng thực và các CRL (hoặc tình trạng thông tin) đến hệ thống khách hàng mà sử dụng các chứng thực. Các cách khác nhau để phân phối các chứng thực là cần thiết, bao gồm các quá trình phân bổ dựa vào LDAP (Light-weight directory access Protocol), HTTP, FTP, và X.500.
Giao thức quản lý hỗ trợ tương tác trực tuyến giữa user PKI và các thực thể quản lí. Ví dụ giao thức quản lí có thể được sử dụng giữa CA và hệ thống khách hàng với cặp khoá được kết hợp, hoặc giữa hai CA với việc nhận thực qua lại nhau. Để làm tăng các chức năng có thể cần thiết phải được hỗ trợ bởi các giao thức quản lí bao gồm đăng ký user, ký tên khách hàng, chứng thực user, cập nhật các khoá theo chu kỳ, huỷ bỏ yêu cầu, chứng thực chéo.
+Trường chứng thực cơ bản
Các trường chứng thực căn bản cho X.509 phiên bản 3 được chỉ rõ ở bảng 6.5, trường chứng thực được ký TBS (to be signed) chứa tên của chủ thể và người phát hành, khoá công cộng liên hệ với chủ thể, giá trị trong thời kỳ, và một số thông tin liên hệ khác. Nó thường bao gồm phần mở rộng mà chứa các thông tin tuỳ chọn thêm vào. Trường chủ thể nhận diện các thực thể liên kết với khoá công cộng mà được chứa trong trường chủ thể khoá công cộng. Nó cũng phân biệt nhận thực cho đầu cuối thực thể, CA, hoặc CRL. Trường thông tin khoá chủ thể được sử dụng để truyền các khoá công cộng, và nhận dạng thuật toán bởi khoá nào được sử dụng.

Hình 6.5 Các trường chứng thực căn bản cho X.509
-Trường thuật toán chữ ký chứa các nhận dạng cho thuật toán mật mã được sử dụng bởi CA để ký tên các chứng thực.
-Trường giá trị chữ ký chứa chữ ký số thêm vào để mã hoá chứng thực TBS. Bằng cách sinh ra chữ ký này, CA chứng thực giá trị của thông tin trong chứng thực TBS. Để rõ ràng hơn, CA này chứng thực sự liên kết giữa khoá công cộng và chủ thể của chứng thực.
+ Danh sách huỷ bỏ chứng thực
Khi một chứng thực được phát, nó được mong đợi được sử dụng trong toàn bộ thời gian có giá trị của nó. Tuy nhiên do một vài hoàn cảnh khác nhau có thể là nguyên nhân của việc các chứng thực không còn giá trị trước thời hạn. Như trong một vài trường hợp bao gồm thay đổi tên, thay đổi sự liên kết giữa chủ thể và CA (ví dụ như một người làm thôi việc ở một tổ chức), và sửa đổi hoặc bị tình nghi sửa đổi của khoá riêng tương ứng. Trong một vài trường hợp CA cần huỷ bỏ các chứng thực.
CRL tương tự như việc thông báo mất hoặc bị đánh cắp thẻ ghi nợ được thông báo đến công ty ghi nợ. CA phát tuần hoàn cấu trúc dữ liệu được ký hiệu được gọi là CRL. CRL là danh sách thời gian đóng dấu để nhận dạng các chứng thực bị thủ tiêu. Danh sách này được đánh dấu bởi CA hoặc người phát hành CRL và có sử dụng tự do trong chứng thực công cộng.
Mỗi chứng thực bị huỷ bỏ có thể được nhận biết trong CRL bằng số serie nhận thực của chính nó. Khi một hệ thống sử dụng chứng thực dùng chứng thực cho việc kiểm tra chữ ký số của user, hệ thống không những kiểm tra chữ ký chứng thực và giá trị của nó mà còn thu được RCL hiện tại và kiểm tra số seri chứng thực có nằm trong CRL hay không.
+ Đường dẫn chứng thực:
Nếu một khoá công cộng của user chưa thực hiện sao chép CA mà được ký hiệu chứng thực mà bao gồm tên của CA, thì nó có thể thêm vào chứng thực để chứa khoá công cộng, ví dụ ở hình 6.6, giả sử rằng Bob yêu cầu nhận thực từ Alice với chứng thực của anh ta với ký hiệu là CA1, nhưng Alice người chứng thực được ký hiệu là CA2 không có khoá công cộng dành cho CA1, mà được yêu cầu để có công nhận chứng thực của Bob. Do vậy Alice tạo một chuỗi mà chứa cả CA2 và chứng thực của cô ta và yêu cầu CA1 cung cấp khoá công cộng dành cho CA1.
Trong trường hợp tổng quát, một chuỗi đa chứng thực là cần thiết để tạo ra các chứng thực chứa khoá công cộng của chính chủ nhân (thực thể đầu cuối) được ký bởi một CA, và không hoặc nhiều chứng thực được thêm vào bắt đầu từ CA này được ký bởi CA khác. Như vậy các chuỗi được gọi là đường dẫn nhận thực, được yêu cầu bởi vì khoá công cộng user được bắt đầu với số lượng giới hạn của các khoá công cộng CA được đảm bảo. Thực thi đường dẫn nhận thực kiểm tra sự liên hệ giữa chủ thể tên và chủ thể khoá công cộng, điều này yêu cầu phải chứa sự liên tiếp của chứng thực để hỗ trợ sự liên hệ này.
Nhiều tổ chức tạo chứng thực ký tên riêng cho cấu trúc khoá công cộng của họ hơn là dựa vào một hoặc nhiều uỷ quyền nhận thực, trong hầu hết trường hợp, điều này chính xác.
Trước khi ký tên nhận thực, CA kiểm tra nhận dạng của tổ chức yêu cầu, do vậy nếu PKI của bạn được truy cập nhiều thì bạn nên cung cấp chữ ký nhận thực bởi CA để người nào đó gọi biết được khoá công cộng của bạn.

Hình 6.6 Một mẫu đường dẫn nhận thực
b. Chữ ký số
Chữ ký số phục vụ mục đích tương tự như một chữ ký trong thế giới thực để xác nhận một thông điệp hay một mẫu dữ liệu nào đó.
Việc sử dụng chữ ký số mang lại một số lợi điểm sau:
+ Khả năng nhận thực:
Các hệ thống mật mã hóa công khai cho phép mật mã hóa văn bản với khóa bí mật mà chỉ có người chủ của khóa biết. Để sử dụng chữ ký số thì văn bản không cần phải được mã hóa mà chỉ cần mã hóa hàm băm của văn bản đó (thường có độ dài cố định và ngắn hơn văn bản). Khi cần kiểm tra, bên nhận giải mã (với khóa công khai) để lấy lại hàm băm và kiểm tra với hàm băm của văn bản nhận được. Nếu 2 giá trị này khớp nhau thì bên nhận có thể tin tưởng rằng văn bản xuất phát từ người sở hữu khóa bí mật. Tất nhiên là chúng ta không thể đảm bảo 100% là văn bản không bị giả mạo vì hệ thống vẫn có thể bị phá vỡ.
Vấn đề nhận thực đặc biệt quan trọng đối với các giao dịch tài chính. Chẳng hạn một chi nhánh ngân hang gửi một gói tin về trung tâm dưới dạng (a,b), trong đó a là số tài khoản và b là số tiền chuyển vào tài khoản đó. Một kẻ lừa đảo có thể gửi một số tiền nào đó để lấy nội dung gói tin và truyền lại gói tin thu được nhiều lần để thu lợi.
+Tính toàn vẹn
Cả hai bên tham gia vào quá trình thông tin đều có thể tin tưởng là văn bản không bị sửa đổi trong khi truyền vì nếu văn bản bị thay đổi thì hàm băm cũng sẽ thay đổi và lập tức bị phát hiện. Quá trình mã hóa sẽ ẩn nội dung của gói tin đối với bên thứ 3 nhưng không ngăn cản được việc thay đổi nội dung của nó. Một ví dụ cho trường hợp này là tấn công đồng hình (homomorphism attack): tiếp tục ví dụ như ở trên, một kẻ lừa đảo gửi 1.000.000 đồng vào tài khoản của a, chặn gói tin (a,b) mà chi nhánh gửi về trung tâm rồi gửi gói tin (a,b3) thay thế để lập tức trở thành triệu phú!
+ Tính không thể phủ nhận
Trong giao dịch, một bên có thể từ chối nhận một văn bản nào đó là do mình gửi. Để ngăn ngừa khả năng này, bên nhận có thể yêu cầu bên gửi phải gửi kèm chữ ký số với văn bản. Khi có tranh chấp, bên nhận sẽ dùng chữ ký này như một chứng cứ để bên thứ ba giải quyết. Tuy nhiên, khóa bí mật vẫn có thể bị lộ và tính không thể phủ nhận cũng không thể đạt được hoàn toàn.
+Thực hiện chữ ký số khóa công khai
Chữ ký số khóa công khai dựa trên nền tảng mật mã khóa công khai. Để có thể trao đổi thông tin trong môi trường này, mỗi người sử dụng có một cặp khóa: một công khai và một bí mật. Khóa công khai được công bố rộng rãi còn khóa bí mật phải được giữ kín và không thể tìm được khóa bí mật nếu chỉ biết khóa công khai.

Sơ đồ tạo và kiểm tra chữ ký s
ố
Toàn bộ quá trình gồm 3 thuật toán:
+ Thuật toán tạo khóa
+ Thuật toán tạo chữ ký số
+ Thuật toán kiểm tra chữ ký số
Xét ví dụ sau: Bob muốn gửi thông tin cho Alice và muốn Alice biết thông tin đó thực sự do chính Bob gửi. Bob gửi cho Alice bản tin kèm với chữ ký số. Chữ ký này được tạo ra với khóa bí mật của Bob. Khi nhận được bản tin, Alice kiểm tra sự thống nhất giữa bản tin và chữ ký bằng thuật toán kiểm tra sử dụng khóa công cộng của Bob. Bản chất của thuật toán tạo chữ ký đảm bảo nếu chỉ cho trước bản tin, rất khó (gần như không thể) tạo ra được chữ ký của Bob nếu không biết khóa bí mật của Bob. Nếu phép thử cho kết quả đúng thì Alice có thể tin tưởng rằng bản tin thực sự do Bob gửi.
Thông thường, Bob không mật mã hóa toàn bộ bản tin với khóa bí mật mà chỉ thực hiện với giá trị băm của bản tin đó. Điều này khiến việc ký trở nên đơn giản hơn và chữ ký ngắn hơn. Tuy nhiên nó cũng làm nảy sinh vấn đề khi 2 bản tin khác nhau lại cho ra cùng một giá trị băm. Đây là điều có thể xảy ra mặc dù xác suất rất thấp.
c. Hệ thống phát hiện xâm nhập mạng (Network Intrusion Detection System)
Hệ thống phát hiện xâm nhập mạng (NIDS) được thiết kế để cảnh báo cho nhà quản trị khi có những luồng traffic độc hại hay không hợp pháp được phát hiện. Luồng độc hai có thể là virus worm hay các đoạn mã xấu, còn những luồng traffic không hợp pháp khi nó sai lệch với chính sách bảo mật đã đặt ra. NIDS có thể dò tìm trong mạng rộng lớn chỉ với vài nút hoặc vài thiết bị và áp đặt lên trên mạng đó. NIDS được tìm thấy trong hầu hết các thiết bị môi trường mạng hiện nay. Trong môi trường VoIP, NIDS cung cấp thêm một lớp phòng thủ
NIDS phát hiện các hành động đáng ngờ bằng ba cách. Thứ nhất, cộng đồng bảo mật chứa một cơ sở dữ liệu vô cùng lớn về cách tấn công chữ ký riêng biệt. Những chữ ký này được lập trình trên bộ cảm biến NIDS, mà được cập nhật một cách thường xuyên căn bản. Thứ hai, bộ cảm biến NIDS chứa đựng một bộ tiền xử lý mà có thể theo dõi các hành vi bất thường trên mạng. Mặc dù nó không như kiểu tấn công chữ ký, những bất thường này cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát hiện của port scan, sự thăm dò phân phối mạng, hình thức tràn bộ đệm mới, tấn công DoS. Thứ ba, tất cả các trang thiết bị NIDS có thể ứng dụng và phát hiện sự sai lệch với các chính sách bảo mật. Sự sai lệch chính sách này bao gồm sự dò tìm dịch vụ mạng không hợp pháp, những ứng dụng chạy trên những port khác thường, như hoạt động của virus Trojan
Đa số các NIDS cấu hình client-to-server. Nhiều thiết bị cảm biến thông thường sẽ báo cáo đến một hay vài bộ điều khiển quản lý. Bộ cảm biến có thể chỉ định các thiết bị, có thể chạy ứng dụng trên host đang chạy ứng dụng khác, hoặc có thể chạy độc lập trong hệ thống riêng ảo như VMware

Hình 6.7 minh họa nguyên lý cơ bản được dùng trong trạm quản lý NIDS
Yêu cầu phần cứng của bộ điều khiển quản lý phải chính xác hơn các bộ cảm biến, bởi vì bộ điều khiển quản lý (MC) chịu trách nhiệm về tương quan dữ liệu từ nhiều cảm biến như là lưu trữ, báo động và trực quan hóa. Thường MC bao gồm một bộ cảm biến tổng hợp.
NIDS được đặt ở những nơi có thể theo dõi hiệu quả nhất lưu lượng mạng. Điều này không có nghĩa là phải đặt NIDS tại nơi có thể theo dõi hết tất cả các lưu lượng mạng. Bên dưới là ví dụ về mô hình mạng. Mạng này gồm một kết nối Internet, một DMZ (Delimitarized zone) và 3 VLAN nội bộ, cấu hình cho thoại user, workstation,và server.

Hình 6.8 : định vị NIDS
Trong hình trên, một NIDS được đặt bên ngoài bên cạnh firewall để theo dõi các lưu lượng Internet vào ra. NIDS còn được chỉ định đặt tại switch layer 2 tại Voice VLAN và Server VLAN, còn switch layer 3 dùng để chuyển đổi những kết nối. Ngoài ra còn có một NIDS bổ sung đặt tại vùng DMZ.
NIDS được đặt tại switch layer 2 có thể giới hạn lại bởi vì những lưu lượng này có thể được kiểm soát bởi switch layer3. Hơn nữa kết nối quản lý chuyển qua tường lửa và cho phép tấn công piggyback vào trong mạng nếu cảm biến được thỏa hiệp. Mặc dù không có những quy tắc nhanh và cứng rắn trong việc triển khai NIDS, đa số người quản trị hệ thống triển khai chúng trên đường uplink và tại thiết bị mà có nhiều VLAN là trunk để số ít NIDS có thể theo dõi đa số lưu lượng mạng.
d. Hệ thống phát hiện xâm nhập Host (Host-based Intrusion Detection System)
Hệ thống phát hiện xâm nhập Host(HIDS) là một ứng dụng hoạt động dựa trên thông tin được tập hợp từ những máy tính riêng lẻ. Điểm lợi thế này cho phép HIDS phân tích các hoạt động trên các host để theo dõi với mức độ chi tiết cao hơn. Nó có thể xác định quá trình hoặc user nào liên quan đến các hoạt động phá hoại. Hơn nữa, không giống như NIDS, HIDS có thể phát hiện ra tấn công trên một máy bởi vì chúng có thể truy cập trực tiếp hoặc theo dõi các file dữ liệu và quá trình hệ thống nhắm tới những tấn công này
Cách khác, HIDS có thể dùng những nguồn thông tin theo hai kiểu, kiểm soát vận hành hệ thống và nhật ký hệ thống. Việc kiểm soát hệ điều hành hình thành ở mức trong cùng của hệ điều hành (nhân), bởi vậy nhật ký hệ thống bảo vệ tốt hơn và chi tiết hơn.
Hầu hết các phần mềm HDIS, tương tự như Tripwire thiết lập một file “kiểm kê số” và những thuộc tính của chúng. Và việc sử dụng những kiểm kê này như một đường mốc cho việc theo dõi sự thay đổi của hệ thống. “Kiểm kê” thông thường là một file chứa đựng các file kiểm tra cá nhân và các thư mục riêng được mã hóa bằng thuật toán MD5.
Sự giám sát HIDS đặc biệt quan trọng đối với phương tiện truyền thông VoIP, proxy, registration server và nên xem xét các phần khởi đầu của việc thiết lập gói. Thật vậy, những nhà cung cấp như Cisco thậm chí đang làm cài đặt mặc định cho phần này. Ví dụ, CSA (Cisco Security Agent) đến với mọi giấy phép Call Manager và Avaya Media Server cung cấp một phiên bản cho phép bởi mạng Tripwire được thiết lập và cấu hình trước
Tuy nhiên HDIS không thể ngăn chặn tấn công DoS cũng như không thể phát hiện các cuộc dò quét mạng. HIDS cần tài nguyên trên host để hoạt động
e.VLAN:
Việc tách thoại và các luồng dữ liệu đi qua VLAN được khuyến cáo để ngăn chặn dữ liệu mạng ảnh hưởng đến các luồng thoại và ngược lại
Ở hình bên dưới, những đường chấm chấm đại diện cho VLAN 2, những đường nét đậm đại diện cho VLAN 10. Server và các trạm làm việc được cô lập dựa trên sự định vị vật lý của họ
Tuy nhiên ta có thể chia VLAN theo cách sau:
Hình trên, đường dấu chấm thể hiện cho VLAN 2, đường nét đậm thể hiện cho VLAN 10, đường nét chấm gạch thể hiện cho VLAN 100. Việc thể hiện ba đường dây với hình thức đường trunk trong sự chuyển đổi giao tiếp thì không nên chỉ đình rằng đó là ba đường kết nối vật lý. Và ở đó, các luồng broadcast trong mạng điện thoại sẽ không thể thấy được các host trong mạng workstation.
VLAN cung cấp một sự an toàn nào đó và nó tạo ra các miền broadcast nhỏ bởi việc phân chia các mạng con. Hậu quả của tấn công DoS có thể được giảm nhẹ bởi việc phân chia hợp lý thoại và dữ liệu chia cắt trong những VLAN riêng biệt. Sự tách riêng lưu lượng mạng yêu cầu các luồng IP phải chuyển qua thiết bị lớp 3, do đó sẽ được kiểm tra tại các mức ACL (Access List). Việc lọc gói hay kiểm tra tràn thái Firewall tại các mối nối cũng được khuyến cáo
Việc bảo mật softphone trong môi trường VoiP là một thách thức lớn, đặc biệt nếu VLAN được sử dụng nhu một điều khiển an toàn chính. Vài softphone như X-Lite lưu trữ chứng nhận không mã hóa trong việc đăng ký với Window thậm chí khi đã gỡ bỏ cài đặt chương trình này. Nhiều softphone chứa đựng phần mềm quảng cáo làm ảnh hưởng đến thông tin cá nhân người sử dụng. HIDS hay Firewall được sử dụng để hạn chế trong tình huống này bởi vì softphone yêu cầu Firewall mở một số port UDP
Nguyên lý quan trọng nhất trong việc đảm bảo các softphone là nâng cấp hệ điều hành. Mailware có thể ảnh hưởng đến các phần mềm ứng dụng khác chạy trên PC có thể can thiệp thông tin thoại.